Tân Lập Today
Latest topics
Top posting users this month

Top posters
Admin (13)
 
NguyễnMai (4)
 
LinhAn (2)
 
Mr.L (2)
 

Top posting users this week

Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 6 người, vào ngày Fri Mar 10, 2017 5:14 pm
Gallery


December 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31      

Calendar Calendar

CÁC MEMBER CHÚ Ý !!!

Fri Mar 10, 2017 6:29 pm by Admin

Hiện tại diễn đàn http://tanlaptoday.forumvi.net của chúng ta mới vừa thành lập.Nên chưa có nhiều thành viên biết tới diễn đàn.vì thế thay mặt BQT diễn đàn,tôi mong rằng các thành viên trong diễn đàn chúng ta hãy cùng nhau quảng bá diễn đàn http://tanlaptoday.forumvi.net đến với mọi người xung quanh chúng ta.Có thể là …

[ Full reading ]

Comments: 0

NỘI QUY DIỄN ĐÀN

Fri Mar 10, 2017 6:27 pm by Admin

Xin thông báo toàn thể anh chi em về Nội Qui chung của diễn đàn Teen Tân Lập

1 / Register nik phải rỏ ràng không dùng nik tục tĩu,nik quảng cáo diễn đàn khác và phải dùng yahoo mail thật của các bạn để đăng ký thì nik của các bạn mới active khi đó các bạn mới có thể vào tham quan các Box được.

Trường Hợp Bị Bann …

[ Full reading ]

Comments: 0

Statistics
Diễn Đàn hiện có 4 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: NguyễnMai

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 19 in 16 subjects
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

Keywords

Affiliates

visit Forumotion

Forumotion on Facebook Forumotion on Twitter Forumotion on YouTube Forumotion on Google+


Di tích Đình Đền Bổng Điền

Go down

Di tích Đình Đền Bổng Điền

Bài gửi by NguyễnMai on Sat Mar 11, 2017 11:55 am

1. Tên di tích: Đình - Đền Bổng Điền 2. Loại công trình: Đình , Đền 3. Loại di tích: Lịch sử 4. Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo QĐ số 1851/QĐ-BVH ngày 14/11/1989. 5. Địa chỉ di tích: Thôn Bổng Điền Nam xã Tân Lập huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. 6. Tóm lược thông tin về di tích

* Thời tiền sử Mảnh đất Bổng Điền trang hình thành từ thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, khoảng thế kỷ thứ 3 TCN. Cấu tạo bởi phù sa sông Hồng bồi tụ giáp với biển đông tạo thành một giải đất dài, rộng từ đầu nguồn: Thượng Tuần Vường “ngã ba sông Hồng với sông Trà Lý, xuống hạ lưu: hạ chí Mom Rô “bãi thôn Tăng Bổng, trung tâm là bãi Hồng Hà”. Từ buổi ban đầu cư dân về đây tụ hội, sinh cơ lập nghiệp hình thành một trang đất phù sa màu mỡ, nên Tổ Tiên đã đặt tên là Bổng Điền Trang (đất có lộc), nơi phù sa màu mỡ có hoa thơm trái ngọt. Năm 1483 vua Lê Thánh Tông đi kinh lý sông Hồng, thăm khu đình, đền thờ nhị vị Tướng Công và nữ tướng Quế Hoa Công chúa, thấy khu kinh tế trù phú, vườn quả nương dâu, hoa thơm, cảnh đẹp, gió ngát mùi hương, dân cư đông đúc Vua tỏ lời khen đẹp giàu, Vua cho phép đặt tên là làng Bổng Điền. * Thời hậu sử Cùng trong lịch sử cuối thế kỉ 17 làng Bổng Điền bắt đầu rời về vị chí Mom Rô chỉ còn mảnh đất xóm Đông An là đất làng cũ, bây giờ nhân dân trong làng vẫn gọi về làng hay lên làng. Từ năm 1795 đến năm 1829 tách khu hạ chí thành làng Tăng Bổng. Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến đầu năm 1946 Nhà nước Dân chủ Cộng hòa lập đơn vị hành chính làng Bổng Điền là một thôn nằm trong xã Tân Lập. Năm 1977 quy vùng sản xuất nông nghiệp nên tách địa lý hành chính xóm Hồng Hà chuyển nhập với xã Việtp Hùng, xóm Thượng Xuân chuyển nhập với xã Bách Thuận. * Sơ lược quần thể khu di tích Đình - Đền Bổng Điền + Tóm tắt lịch sử ngôi Đình Từ buổi bình minh trên đất Bổng Điền trang đã lập đền thờ Thành Hoàng theo thần phả... vào thời Vua Hùng 300 năm trước CN, đất Hà Trung Thanh Hóa có gia đình dòng họ Hùng Lan Công và bà Trịnh Thị Cúc danh y nổi tiếng sống: “ Gia thanh tính thiện” ông bà sinh ra người con giái, con lên 6 tuổi bà qua đời, ông nuôi dạy con trưởng thành, gây dựng gia thất xong ông giao gia sản cho con rồi đi cứu dân độ thế. Khi ông đi đến đất Bổng Điền trang trù phú, phong cảnh hữu tình, ông ở lại làm thuốc, chữa bệnh, dạy chữ cho dân, trong đó có gia đình cụ Sùng Công có người con gái tên là Đào Nương đang độ thanh xuân, lòng nhân hậu bỗng nhiên lâm bệnh, suy tư.....nhiều thày lang chữa nhiều năm, bệnh không thuyên giảm, được danh y Hùng Lan Công bắt mạch cắt 5 chén thuốc uống đã khỏi nhan sắc trở lại bình thường, cô tỏ lòng mến ái, sự linh ứng tơ duyên giữa Lan Công và Đào Nương là thiên định, hai người trở thành gia thất sống trong cảnh điền viên phúc lộc. Một hôm vua Thủy Tề biết tin sai sứ giả lên triệu danh y xuống Thủy cung chữa bệnh cho Hoàng tử con Vua Thủy Tế, chữa khỏi bệnh, danh y trờ về không lấy bạc, vàng châu báu, mà tâu với vua Thủy Tề ban ân cho sinh con để nối dõi tông đường. Vụa Thủy Tề sai hai thủy thần giáng xuống làm con Lan ông. Từ đó Lan bà mang thai, đúng giờ tý ngày 10 tháng 3 năm Nhâm Thìn (270 – TCN), Lan bà ra bến sông tắm thì xuất hiện một con giao Long to quấn quanh bà ba vòng, khi về tới nhà thì Đào Nương đã sinh ra một bọc nở ra nhị vị Nam tử. Có tướng mạo khác thường trên lưng in hình 28 vẩy rồng có tướng mạo uy nghi tuấn kiệt. Mới sinh ra hai nam tử đã học tinh thông văn võ toàn tài, dân chúng mừng rỡ, nhà vụa biết tin đã phong tước cho cho ông bà đặt tên hai người con là (Tĩnh Bộ - Tạp Bộ), ban vàng bạc giao cho dân phụng dưỡng, qua 18 năm rèn luyên kinh sử võ nghệ thông lược. Giang sơn bị giặc xâm lăng đe dọa. Vua triệu hồi hai vị về triều phong tước: Tĩnh Bộ tướng công - Tạp Bộ Tướng Công và giao cầm quân dẹp loạn, trải qua chinh chiến đánh đâu thắng đấy, đã hai lần triều đình phong tước cao nhất: Tĩnh Bộ dương uy trợ thắng đại tướng quân và Tạp bộ vi hộ quốc trạch vật đại vương. Đất nước thanh bình lưỡng Công được về bái tạ vinh quy, dân chúng mở hội lưỡng công xúc động, lòng trung hậu của nhân dân, hai vị đã ngỏ lời ta với dân như anh em kết nghĩa Giữa những ngày vui trọng đại, bỗng trời đất nổi phong ba, gió lớn nổi lên, trên không trung xuất hiên hai con giao Long và nhân dân thấy nhị vị Tướng quân rẽ nước nhập thủy biến mất, ngày đó là ngày 15 tháng 8 năm Quý Sửu khi nhị vị tròn 22 tuổi. Nhân dân tưởng nhớ công ơn hai vị tướng công nên đã lập đình thờ và tôn vinh là Thành Hoàng làng. Ngôi đình thờ đã được các triều đại kế tiếp nhau phong sắc nhiều lần. Thần phả được Nguyễn Hiền (trạng nguyên) sao thân phả có ghi ở cuối là: “ Hoàng Triều Vĩnh Hựu tam niên nhị nguyệt, cát nhật quản giám bách thần chi điện hoàng linh thiếu lang thần - Nguyễn Hiền tuần y tiền triều cựu bản phụng sao” năm 1737 và soạn thảo thần phả năm 1542 đời vua Thánh Tông do Nguyển Bỉnh soạn thảo bằng chữ Hán. - Bản sao lần đầu năm 1784 - Bản sao lần 2 năm 1792 đời vua Quang Trụng - Bản sao lần 3 năm 1916 đời vua Khải Định - Bản gốc: Khải Định cửu niên bát nguyệt nhị thập ngũ nhật Giáp Tý (1924) Để ghi nhận công đức của người. Năm 1989 Nhà nước Cộng Hóa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định công nhận di tích LSVH mang số 1851/QĐ-BVH ngày 14/11/1989, Ngoài ra còn có nhiều cổ vật quý như: - Bản khắc lệ hiệu nhị vị Đại Vương năm 1843 - Hai cỗ ngai cổ và 2 mũ đồng không có niên hiệu Các đồ thờ phần lớn bằng đồng như: Bát hương, chuông, lư hương Nhiều hoành phi, cuốn thư, câu đối được nhân dân tiến cúng từ những năm 1855 đến năm 1933. Đặc biệt có hai cỗ kiệu bát cống từ đời nhà lê đã hỏng chỉ còn lại một số thanh cái. + Về xây dựng và trùng tu tôn tạo Năm 1737 (Đinh Tỵ) đời vua Lê ý Tông nhân dân về đây hội tụ đã đắp nền xây dựng đình một cung chính sau này gọi là hậu cung và cũng năm đó xây bái đường, sau này gọi là đình trung. Như vậy năm 1737 làng Bổng Điền đã hình thành mốc lịch sử có ý nghĩa trọng đại trên quê hương, nối tiếp mảnh đất địa linh, nhân kiệt của Bổng Điền ngày khánh thành đúng vào ngày kỵ thánh 15 tháng 8. Tiếp sau ngôi đình được mở rộng để lễ bái và hội họp việc làng, năm 1855 đời vua Tự Đức (ất mão) dựng ngôi đình ngoài, nay gọi là đình trống. Ngôi đình được xây dựng cách nay gần 300 năm đã bị xuống cấp nghiêm trọng, nhiều lần nhân dân quyên góp tiền của để sửa chữa. Đến năm 2010 (Canh Dần) ngôi đình xuống cấp qúa nặng đã được Sở, các phòng ban liên quan khảo sát phê duyệt cấp một phần kinh phí (90 triệu đồng) cộng với sự đóng góp của nhân dân tu sửa (đại trùng tu) với tổng kinh phí là 480 triệu đồng. + Tóm tắt lịch sử ngôi Đền Gia đình ông Đỗ Công và bà Trần Thị Hạnh từ Phú Thọ về ngụ tại đất Bổng Điền trang, ông bà có lòng yêu nước vừa mở quán bán hàng để sinh cơ lập nghiệp và có điều kiện giao tiếp chiêu mộ hiền tài tạo cơ hội cứu nước.Giữa đêm thanh gió mát bà ứng mộng, khi kể lại ông đoán là điềm tốt: “ Quế Hoa nhập mộng” tới khi mãn nguyện bà sịnh người con gái giữa đêm 15 tháng 8 năm 26 (Bính Tuất) và đặt tên là Quế Hoa, bẩm sinh thiên tài được truyền thụ lòng yêu nước, đức độ của cha mẹ. Với thiên tài bẩm sinh Quế Hoa nương đã vượt lên trên tầm vóc người thường, trong những năm đất nước bị xâm lược, Quế Hoa mới lên 8 tuổi đã tầm sư học đạo, quân Tô Định đã phát hiện ra là một cô gái thiên tài, chúng đèm đem quân vây bắt, Quế Hoa không ở nhà, chúng bắt cha mẹ tra tấn giã man, người cha không khuất phục, bị chúng hành quyết. Tin cha mất, mẹ buồn phiền ốm yếu, Quế Nương trở về phụng dưỡng mẹ. Hận nước mất nhà tan, Quê Hoa đã tụ hội nghĩaquân lập doanh trại luyện quân và đã ra nhập đội quân quốc gia dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hai Bà Trưng. Nhận lệnh cuả triều đình, nữ tướng đưa quân về phối hợp với các nữ tướng Bát Nạn, Lê Chân chiến đấu chống quân xâm lược phương bắc ở vùng bằng sông Hồng, làm cho kẻ thù bao phen thua thiệt, khiếp sợ và khâm phục tài thao lược của người nữ tướng, trong chiến đấu nữ tướng được nhân dân tôn phò giúp sức, trong một trận quyết chiến sinh tử lực không cân sức, bà đã về với non sông. “trung hiều làm tròn bổn phận” rồi gieo mình xuống dòng sông Hồng và đã trôi về nơi chôn nhau cắt rốn vào buổi ban mai ngày 10 tháng 2 năm Quí mão (43). Nhân dân đã đưa thi hài của bà về chính đất Bổng Điền trang mai táng, lập đền thờ tôn vinh ngài là: Nữ tướng Quế Hoa công chúa. Ngôi đền – lăng mộ của bà nằm trên đất Bổng Điền trang, tới năm 1880 lăng mộ nằm cạnh sông Hồng bị sạt lở, năm 1923 lăng mộ được đưa vào phía trong đê chấn thủy gần làng Hương Điền nay thuộc xã Việt Hùng xây lăng và đền thờ. Hằng năm mở hội truyền thống đều có rước kiệu từ đền Bổng Điền lên đến lăng của bà. Công lao cuả bà đã được phong tước: Tướng quân Quế Hoa các triều đại nối tiếp nhau đã nhiều lần phongsắc: Thượng đẳng thân tướng quân, Rục bảo hưng thượng đẳng thần. Ba bản sao sắc phong: - Thành thái – năm kỷ sửu - 1889 - Duy Tân – năm kỷ dậu – 1909 - Khải Định – năm Giáp Tý – 1924 Ngày 14 tháng 11 năm 1989 nhà nước CHXHCN Việt Nam quyết định công nhận Đền Bổng Điền là di tích LSVH. Chính là ghi nhận công đức của bà trong sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Để tưởng nhớ người con ưu tú của quê hương, nhân dân đã xây dựng, giữ gìn tôn tạo Đền thờ bà. Hàng năm mở hội vào ngày rằm tháng 3 âm lịch. Ngôi đền thờ để lại nhiều cổ vật quí: như một cỗ ngai và một mũ đồng (không có niên hiệu), một khoán và 1 pho tượng mẫu (cũng không có niên hiệu) 1 kiệu hậu bành năm 1908 1 kiệu võng năm 1919 1 quả chuông 1947 và nhiều bát hương đồng năm 1925 - Đại tự giữa: Linh đồng hiển liệt Duy Tân, Ất Mão 1915 - Hai Đại tự 2 bên: Thánh Trạch – 1921, - Các câu đối tiến cúng năm 1914, 1919, 1920 + Về xây dựng tu bổ Khi nhân dân mới về đây tụ hội sinh cơ lập nghiệp đã cùng nhau xây dựng ngôi đền bằng gỗ tạp để thờ, không để lại niên hiệu. Đến năm 1848 xây dựng lại cung cấm năm 1915 xây dựng lại cung giữa năm 1931 xây dựng lại Tam quan Ngôi đền dược xây dựng trên hai trăm năm bằng gỗ lim nên chỉ xuống cấp từng bộ phận nhỏ. Năm 2000 nhân dân trong làng công đức để thay nóc, rui, và một số cột trái. Số tiền các đợt tu sửa được nhân dân trong làng và khách thập phương tiến cúng công đức. * Chùa Bổng Điền Trên đất Bổng Điền trang xưa có một ngôi chùa có tên chữ là: Nghiêm Quang tự (Bia đá còn ghi để trước đình hiện nay), khoảng năm 1700 lập ngôi chùa nhỏ ở Đông An (Phúc tâm tự) để nhân dân hướng đạo. Sau khi khu đình, đền đã xây dựng cơ bản nhân dân lập ngôi chùa gỗ tạp lợp lá làm nơi thờ Phật. Năm 1908 (Mậu thân) mới xây dựng vĩnh cửu ngôi chùa có tên là Sùng Quang tự. Năm 1941 (tân tỵ) nhà sư Thích Tâm Thu - Trụ trì xây dựng gác chuông. Quá trình xây có môt số sự tích để dấu ấn truyền thuyết trong nhân dân. Một số cổ vật còn lưu lại: Bia hậu chùa: 1917 - 3 đôi câu đối, hoành phi đại tự, cửa võng được nhân dân tiến cúng công đức từ những năm 1908, năm xây dựng lại. + Xây dựng và nội dung thờ văn chỉ Khu văn chỉ xây dựng không có niên hiệu. Theo tiền nhân để lại, sau khi xây dựng đình - Đền xong nhân dân xây dựng văn chỉ rồi thành lập: “Hội tư văn thờ các vị có học, vị khóa sinh, thờ Khổng Tử. Ngôi chính giữa thờ Đại thành chi Thánh tuyên Vương Khổng Tử - 4 ngôi phía trước thờ: Phục Thánh công nhan tử Tôn Thánh công tăng tử Thuật Thánh công tư tử Á Thánh công mạnh tử Đẳng giữa (trong) thờ Thập Triết tiên hiền Đẳng giữa (ngoài) thờ Thất Thập nhị hầu Xem trong lịch sử Việt Nam, từ đời nhà Hán – Trung Quốc, có 3 đạo: Đạo Khổng, Đạo Lão, Đạo Phật, còn gọi là đạo gia phát triển theo chủ nghĩa yếm thế, thoát tục, chứ không phải Khổng Tử sinh ra chữ Hán để truyền bá vào Việt Nam. Khổng tử cùng các trò là các bậc hiền triết lập ra đạo ra phục vụ hệ giáo huấn phong kiến. Đình, Đền, Chùa, văn chỉ là một cụm quần thể nằm ở trung tâm của làng với tổng diện tích là 16510 m2. Kiến thức văn hóa cổ là đời Hậu Lê đầu Nguyễn lại giữ được gần như nguyên vẹn về sắc phong, thần phả và các đồ thờ cổ không bị hư hỏng mất mát. Hằng năm nhân dân và chính quyền địa phương tổ chức mở hội truyền thống để nhớ ơn các vị tiền bối có công gìn giữ quê hương và đất nước.
avatar
NguyễnMai

Tổng số bài gửi : 4
Join date : 11/03/2017

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết